Work Text:
i.
Càng đến gần sinh nhật của Kuzuha – tức là, càng gần với cuối thu, đầu đông – bệnh tình của thầy Kanae càng trở nặng.
Kuzuha đã lùng sục cùng khắp, đã tìm từ trên những dốc núi rất cao đến những bến cảng nườm nượp những thứ ngôn ngữ nửa lạ nửa quen, thế nhưng vẫn chưa một thầy thuốc, một vị bác sĩ nào có thể cho căn bệnh của thầy một cái tên; chưa một ai có thể cho Kuzuha một câu trả lời. Và càng thế, ở một góc khuất nào đó trong cõi lòng Kuzuha, niềm căm ghét loài người trong anh càng như đang mơ hồ cợn dậy. Nhưng trách làm sao được. Chính Người Lính đã dạy cho anh, bằng tất thảy sự trào phúng và khinh mạn với cội nguồn của chính anh, rằng có bao nhiêu căn bệnh, bao nhiêu dịch bệnh của loài người là nghiệp quả mà dân đen gánh giùm cho quý tộc. Rằng có bao nhiêu niềm đau của loài người là lỗi của chính loài người.
Kuzuha tưởng anh đã bỏ quên được niềm căm ghét mà Người Lính đã dạy anh. Anh tưởng anh đã vượt qua được nó rồi. Anh tưởng anh đã bỏ lại được niềm căm ghét ấy, gói ghém nó gọn ghẽ vào trong tấm áo choàng nhung đỏ của chính anh, rồi dùng chính tấm áo choàng ấy quấn quanh thân xác lỗ chỗ lỗ đạn và nhoe nhoét máu đỏ đến phát đen của một “Kanae” đã chết một cái chết bất công đến khôn cùng. Cuộc chiến đã kết thúc rồi kia mà, đã kết thúc rồi kia mà, sao Kanae vẫn phải chết. Và tại sao cờ hoa vẫn tung bay, tại sao sau mùa đông mùa xuân vẫn tới, tại sao những người đã khóc thương Kanae vào ngày hôm ấy không cùng anh đi tìm Kanae— Nhưng đó đã là câu chuyện từ lâu lắm, Kuzuha hít thở thật sâu để tự trấn tĩnh mình lại. Không sao, không sao, đó đã là chuyện từ lâu lắm. Bây giờ thầy Kanae của anh đang ngồi ngay trước mắt anh đây, tiều tụy nhưng vẫn thẳng lưng, đoan trang như một chân lý về lòng tốt được kể thông qua một câu chuyện cổ tích giản đơn; tay thầy đặt trên bàn, cổ tay ngửa bụng dưới những ngón tay lanh lợi của vị du y vừa được Kuzuha mời về.
Kuzuha nhìn nốt ruồi nơi khóe mắt thầy, nhìn khuôn mặt bình thản của thầy và nghĩ – như giãy dụa, như trăng trối, như bấu víu vào cả di nguyện của Người Lính lẫn tâm nguyện của thầy Kanae – rằng rõ ràng, rõ ràng, anh đã có thể bỏ qua cho loài người. Những câu chuyện của thầy Kanae dạy anh như thế. Thầy Kanae đã dạy anh, đã đồng hành cùng anh, cho đến khi anh có thể…
Thế nhưng vị du y nổi tiếng là “kho tàng tri thức bản địa sống" được Kuzuha cất công cõng về từ một miền xa tít đã dời ngón tay khỏi cổ tay Kanae, rồi nhíu mày hỏi thầy, giọng nặng nề và khó nhọc như tiếng ho xé gan xé phổi của Kanae trong những đêm đằng đẵng: Tiên sinh à, có phải tiên sinh đã lớn lên trong hố bom ở vùng quê nơi này không…
Kuzuha không biết làm sao bản thân có thể không bật khóc vào ngay khoảnh khắc ấy. Tai anh ù đi như thể Người Lính lại vừa mới gác báng súng lên vai anh và giật cò, như thể kiếm anh vừa tuốt khỏi vỏ và anh lại đang lao về trước như một tấm khiên, biết rõ rằng ánh mắt lạnh tanh của Người Lính vẫn đang dán chặt lên lưng mình. Dù sự thật chắc chắn không phải là như thế… Ý anh là, anh biết tai anh đang không thực sự ù đi, anh nghe mồn một thầy Kanae đáp lời vị y sư kia, biểu cảm chẳng thay đổi mảy may, đáy mắt không gợn một cợn sóng, rằng tiểu sinh cũng không còn nhớ nữa, nhưng bác sĩ đã nói vậy, thì chắc đúng là vậy rồi.
Vì một lẽ nào đó, khuôn mặt vị du y trông còn khổ sở gấp bội so với gương mặt thầy.
Không phải là không ai cho Kuzuha được một câu trả lời, mà là câu trả lời của họ không đổi. Và Kuzuha không thích đáp án không thể suy chuyển ấy.
Khuôn mặt vị du y kia trông còn khổ sở gấp bội so với gương mặt bình thản, bất biến của thầy.
Tối hôm ấy thầy Kanae lại kì kèo không chịu uống thuốc. Tối hôm ấy, sau bữa tối, thầy lại đòi uống thêm một bát rượu ngô. Và Kuzuha đã muốn nổi đóa lên, nhưng anh thực sự không thể. Cứ nhìn vào gương mặt thầy là anh lại không thể. Cứ nhìn vào đôi mắt xám dịu và nốt ruồi giọt lệ sau ba kiếp vẫn không chịu di xuống gần sống mũi, hay gần khóe môi hơn; sau ba kiếp vẫn cứ cố chấp là một nốt ruồi giọt lệ, là thứ mà theo nhân tướng học thì chỉ có thể báo hiệu cho một cuộc đời mặn chát sầu bi, là nốt ruồi giống hệt với nốt ruồi nơi khóe mắt Kuzuha — “Sao hôm nay Kuzuha im lặng thế?” Kanae nghiêng đầu, khóe môi hơi vểnh lên trong một cái cười nhẹ như tiếng thở hắt, thầy vươn ngón cái tới miết nhẹ lên lông mày anh và Kuzuha, đến tận khắc ấy, mới nhận ra rằng chân mày và có lẽ là cả khuôn mặt anh đang nhăn nhúm lại.
“Anh không mắng yêu ta như mọi hôm nữa à?" Thầy hỏi như đang trêu, vì rõ ràng thầy cũng biết rằng chỉ cần thầy cất giọng, hơi thở hây hây buồn, vương hơi rượu ấm, là Kuzuha sẽ chẳng bao giờ, chẳng bao giờ có thể thực sự giận thầy. Kể cả khi thầy lúc nào cũng nói những lời trắng trợn và làm những điều quá quắt, tỉ dụ như ngay lúc này:
“Kuzuha cũng đâu nhất thiết phải ở đây mãi với ta.”
Thầy Kanae nói tất thảy những lời này, với ánh nhìn như thấu suốt và một nụ cười thật buồn trên môi.
“Ta đã nói rồi, ta nhặt Kuzuha về cũng là có tâm cơ riêng.” Roto tất nhiên sẽ chọn ngay lúc ấy để bò ra từ dưới chiếc bàn thấp ở giữa phòng. Kuzuha không biết nó đã nghe được bao nhiêu, anh chỉ biết rằng sinh vật ấy cũng như anh, luôn bênh Kanae chằm chặp; cho nên bằng một sự khôn ngoan và lanh lẹ đầy khả nghi, sinh vật đen thẳm ấy chui tuột vào lòng Kanae, và ngửa bụng lên làm nũng như để cho thầy một cái cớ hoàn hảo để không tiếp tục nhìn thẳng vào mắt Kuzuha. “Ta nhặt Kuzuha về là vì ta chứ không phải vì Kuzuha. Cho nên Kuzuha cũng không cần phải ở lại bởi vì cảm thấy mang ơn, cần phải báo ơn cho ta hay gì cả…”
Hai chi trước của Roto vồ lấy ngón tay trỏ đang gãi nhẹ dưới cằm nó, nó oằn mình và ngửa miệng ngoạm lấy đầu ngón tay thầy.
“Kìa, Roto!" Thầy trách yêu nó, giọng vểnh nhẹ ý cười. Và Kuzuha bỗng vỡ lẽ rằng Roto cho thầy một cái cớ để không phải nhìn vào mắt anh, rõ ràng cũng là vì cả anh.
Gió lùa vào từ khoảng sân không rào, vây lấy họ trên khoảnh hiên chẳng có gì che chắn; gió nhẹ là thế, ấy mà tệp bản thảo dầu đang được chèn dưới một quả cầu tuyết vẫn cứ cọ mép vào nhau, đánh tiếng loạt xoạt như quẹt diêm, như kiếm tìm hơi ấm từ nhau và từ những câu chuyện in trên mình chúng. Thầy Kanae đưa tay lên che miệng, húng hắng ho, và khi Kuzuha nhích lại gần để đặt tay lên lưng thầy, để xoa lưng thầy trong khi chờ cơn ho dịu bớt, để gỡ bàn tay đang che miệng của thầy xuống rồi rút khăn tay ra lau sạch những bọng máu nhớt đen đặc đọng trong lòng tay, anh chỉ có thể nói:
“Tôi sẽ không để thầy chết một mình."
Chỉ đến những lúc như thế, trong mắt thầy mới lộ ra vẻ xót xa.
“Vậy Kuzuha định sẽ chết cùng ta sao?"
Chỉ đến những lúc như thế…
“Tất nhiên là không rồi."
Roto vẫn nằm trong lòng thầy, đầu nó dụi vào bụng thầy, ngoan ngoãn như một con mèo giả. Nó biết rằng lông nó sẽ không làm mũi thầy bị kích ứng hay làm trận ho của thầy nặng hơn, vì nó, một con mèo giả, có thể kiểm soát được tất thảy những yếu tố như thế; cho nên nó không rời thầy nửa bước, không cần rời thầy nửa bước, kể cả khi Kuzuha nhẹ nhàng đỡ thầy từ ngoài hiên vào lại trong nhà.
"Vậy thì… tốt rồi." Thầy nói thêm như thể không chịu để Kuzuha giành lấy phần thắng, không chịu để Kuzuha là người đặt dấu chấm hết cho cuộc trò chuyện. Giọng thầy đã hơi khàn đi, và lần này, khi Kuzuha nhấc chén thuốc khỏi bát nước đã từ nóng phỏng thành chỉ còn âm ấm, và đặt vào tay thầy, thầy không còn kì kèo viện cớ nữa.
Thuốc rất đắng. Rất khó nuốt, Kuzuha biết. Thầy ngửa cổ uống cạn, và rồi lại làm một cơn ho. Những tệp bản thảo cọ vào nhau loạt xoạt. Gót chân Kuzuha trót đá cho quả cầu tuyết nghiêng sang. Thế nhưng thật may là mùa đông vẫn chưa vỡ ra sàn. Những tệp bản thảo cọ vào nhau loạt xoạt.
Roto chồm sang để nằm đè lên chúng.
“Kuzuha, đừng đóng cửa vội.” Kuzuha nghe rõ tiếng thầy đảo lưỡi, đẩy viên kẹo mềm thầy đang ngậm trong miệng về một bên má. Một tay thầy đang tì trên bàn, một tay níu lên vạt áo anh: “Ta muốn ngắm phố đêm thêm một lúc nữa…”
Xa xa phía bên dưới vách đá nơi tận cùng của khoảng sân không rào, có cái nhộn nhịp của vụ mùa cuối cùng trong năm, có những ngọn đèn sáng chập chùng như vây cá. Khi nhìn vào chúng, Kuzuha không còn nhớ đến ánh lửa trong đêm và kế nghi binh nữa. Thế nhưng những vết sẹo mà chiến tranh để lại, dù là trên da thịt một mảnh đất hay trên gia phả những con người bám lấy mảnh đất, lấy con nước ấy mà sống, đã bao giờ dễ gọi tên, dễ chữa, dễ phai.
“... Kuzuha lại đang nhớ ai thế?"
Nếu như một vết sẹo từ chiến tranh tước Kanae đi khỏi anh. Nếu như chiến tranh tước “Kanae” đi khỏi anh thêm một lần nữa.
Nhưng Kuzuha không cho phép bản thân mình nghĩ như thế. Bởi vì đó là suy nghĩ của Aleksandll Lagusa. Và Aleksandll Lagusa thì đã chết cùng Linh Mục nơi nhà thờ ngùn ngụt cháy, và chết cùng Người Lính nơi tòa thành be bét tiếng bom. “Kanae" là loài hữu tử, và để không nghiến chết anh trong sức nặng mà không loài hữu tử nào có thể gánh vác, sức nặng mà “Kanae" không cần phải chịu trách nhiệm cho, sức nặng từ cảm xúc của Aleksandll Lagusa – y đã đưa ra một quyết tâm đơn giản: Y sẽ chết cùng anh. Mỗi lần anh chết, y sẽ chết cùng anh. Những con người cùng có nốt ruồi giọt lệ dưới khóe mắt trái mà y đã được gặp và được yêu, và rồi phải tiễn biệt – Aleksandll Lagusa đã tự hứa với lòng rằng sẽ không đè chồng và lẫn lộn những con người ấy lên nhau. Người Lính đã dạy y rồi, không con người nào xứng đáng phải bị vây hãm trong một thứ tình cảm bất công nhường ấy…
“Kuzuha lại đang nhớ ‘ta’ à?”
Khuôn mặt mà linh hồn này sở hữu hầu như không thay đổi, dầu đã qua ba kiếp người. Nhưng đây là lần đầu tiên Kuzuha được thấy khóe mắt người mờ mờ những vệt chân chim, đây là lần đầu tiên Kuzuha được thấy tóc người điểm bạc, đây là lần đầu tiên Kuzuha được thấy người ở một cái tuổi mà…
“... Xin lỗi.”
"Đừng xin lỗi.” … ở một cái tuổi mà nếu phải nhìn thấy thầy nằm trong quan tài, câu đầu tiên Kuzuha phải nghe người đời nói sẽ không còn là đáng tiếc quá, chao ôi, còn trẻ vậy mà nữa. Mắt thầy hơi nheo lại, và, đó, rãnh cười mềm mại nơi đuôi mắt; dù giọng thầy vẫn đang hơi khản, khò khè: "Ta không phiền đâu mà.”
Anh chỉ muốn được thấy người già đi thêm một chút nữa. Được thấy người sống thêm một chút nữa. Được ở cùng người thêm một chút nữa. Được sống cùng người thêm một chút nữa.
“Vả lại, nào giờ ta cũng đâu có xin lỗi Kuzuha."
Một chút nữa.
"Kuzuha cũng phải ích kỷ một chút, như vậy mới có thể tính là ta với anh huề nhau.”
Như vậy cũng là đòi hỏi quá nhiều ư?
“... Nếu chúng ta đã huề nhau rồi, vậy thầy đừng bao giờ nói hay nghĩ đến chuyện đuổi tôi đi nữa."
Kanae lẳng lặng nhìn anh, rồi lẳng lặng ngoảnh mặt đi. “Ừ, anh nói đúng," thế rồi thầy lẩm bẩm, “đến cùng hết thảy cũng đều là sự ích kỷ của riêng mình ta."
Cả việc Kuzuha đang ở đây, bên ta, cũng vậy. Kanae đã nói như vậy, thật khẽ. Kuzuha không nhìn những ngọn đèn, không nhìn những cái đầu người bé như những viên đạn nữa, anh chỉ nhìn thầy, và anh bảo, thầy kiêu ngạo quá rồi đấy.
Kanae cười thành tiếng, môi không hé, thanh âm rát và khàn rung lên từ cổ họng. Một lọn tóc rơi từ sau mang tai, cọ vào vệt chân chim nơi khóe mắt thầy.
ii.
Kanae nhặt anh về vào những năm trì trệ nhất của đời thầy.
Aleksandll Lagusa không đi tìm thầy. Anh biết thầy ở đây, nhưng anh không đi tìm thầy. Là thầy tìm thấy anh. Luôn luôn là Kanae tìm thấy anh. Và rất lâu sau này, chính Kanae đã nói, rằng thầy nhặt anh về vào những năm trì trệ nhất của đời thầy.
Anh biết rằng, tính đến thời điểm ấy, đã gần bốn năm kể từ lần cuối anh thấy tên thầy trên tạp chí. Khi anh bâng quơ hỏi rằng có phải ý thầy là như thế khi thầy gọi những năm ấy là "những năm trì trệ" không – thầy đã mỉm môi một cái cười rất mỏng, và bảo rằng, thật ra thầy vẫn viết đấy thây; thầy viết rất nhiều, chỉ là dưới một, à không, là hai bút danh khác. Thầy bảo thầy đã muốn nghỉ, mà quãng thời gian ấy, một khi thầy đã bỏ bút xuống thì đúng là khó mà có thể nghĩ đến chữ nghĩa gì; nhưng chỉ cần thầy cầm bút lên, những con chữ sẽ lích rích chảy khỏi kẽ tay như thể chúng nó chẳng còn biết lối đào tẩu nào khác. Anh hỏi tại sao thầy phải dùng bút danh khác. Thầy bảo, để chạy trốn. Anh hỏi thầy chạy trốn khỏi cái gì. Thầy đáp, có lẽ là kỳ vọng của người khác, có lẽ là cái bóng của chính thầy. Kuzuha lại hỏi, nếu thầy vẫn cứ viết, đã vậy còn là viết cho riêng mình thầy, thì cớ gì lại gọi là trì trệ.
Kanae không đáp lời anh.
Khi thầy hỏi tên anh, anh đã nhìn chằm chằm vào đôi mắt vàng khè của con mèo đen mà thầy giới thiệu là “bạn cùng phòng, thường xuyên đi công tác" của thầy, mất một lúc, rồi mới dời ánh mắt sang đôi tay đang đặt trên đùi của thầy; và rồi anh đáp rằng anh không có tên… không còn tên nữa rồi.
Kanae nghiêng đầu, im lặng một chốc, rồi hỏi, vậy anh muốn thầy gọi anh là gì.
Từ giữa một trong những tệp bản thảo của thầy, anh chọn cho mình cái tên “Kuzuha". Anh biết thầy yêu những câu chuyện của chính thầy đến nhường nào, anh biết thầy yêu những nhân vật trong những câu chuyện ấy đến độ đôi khi không nỡ viết về họ, và vì vậy, như để tự trừng phạt chính mình, như để thầm lặng sám hối, anh ích kỷ chen vào bên dưới cái tên “Kuzuha" ấy, vai tì vai với một nhân vật mà anh biết rằng thầy rất yêu. Vai tì vai với một nhân vật mà anh kiêu ngạo tin rằng chỉ có anh mới nhận ra rằng thầy yêu y đến độ nào, khi mà thầy đã luôn cẩn thận che đậy, cẩn thận bảo bọc y đến thế.
Khoảnh khắc ấy, khuôn mặt Kanae lộ rõ vẻ bất ngờ. Đó là lần duy nhất. Có lẽ đó thực sự là lần duy nhất. Bởi vì rất lâu, rất lâu kể từ cuộc gặp gỡ đầu tiên nọ, khi anh bộc bạch với thầy về những điều còn gây sốc hơn thế gấp vạn lần; khi anh cuối cùng cũng có can đảm nói với thầy về giống nòi của anh, về Linh Mục, về Người Lính, về cách mà anh yêu thầy nhưng không phải chỉ vì thầy là nối dài của một ai đó, hoặc chí ít là không phải “chỉ vì", anh yêu thầy chỉ vì thầy là thầy Kanae thôi – thầy đã bình thản tựa lưng vào cánh cửa xếp dẫn ra hiên nhà, điềm nhiên nghe từ đầu chí cuối, và rồi đáp lời anh bằng một câu nghe chừng rất vu vơ, “Bảo sao…”
Bởi vì Kuzuha là độc giả của ta – có một lần, nối vào một câu hỏi của Kuzuha, thầy đã đáp một câu chẳng chút ăn nhập như thế – bởi vì Kuzuha là độc giả của ta, nên ta sẽ tha thứ cho tất cả mọi thứ. Kuzuha không rõ có nên tả độ cong tự nhiên nơi môi thầy là một cái cười hay không, khi thầy bảo rằng, bởi vì Kuzuha đã khiến ta tin rằng sau khi ta chết đi, vẫn sẽ có ai đó tiếp tục đọc, tiếp tục yêu, tiếp tục cố để hiểu những câu chuyện của ta.
Cho nên dù có thế nào đi chăng nữa, ta vẫn sẽ tha thứ cho Kuzuha.
Lúc nào cũng vậy. Lúc nào cũng vậy. Kuzuha siết lấy bả vai Kanae khi thầy oằn mình trong lòng anh, tay cấu lấy lưng áo anh, ho như muốn cào chớt cả ráng chiều. Ma thuật run lên trên những đầu ngón tay Kuzuha, nhưng không tài nào xóa tan hay làm dịu những đen đúa cắm rễ thật sâu trong buồng phổi, trong xác thịt thầy được. Đôi mắt vàng khè của Roto nhìn chằm chằm vào bàn tay anh như đang ghìm anh tại chỗ. Kuzuha chỉ đành thả cho đứt gãy câu chú đang tụ dần nơi đầu ngón. Đôi tay yếu ớt và trần tục của anh ôm chặt lấy thầy. Tại sao kia chứ, hơi thở Kuzuha cũng run lên, tại sao kia chứ. Tại sao. Chẳng ai nằm dưới hay nằm trên nghiệp quả, chẳng ai có thể thoát khỏi dòng chảy vừa trong suốt vừa đục ngầu không thể lần rõ cả đầu lẫn đuôi ấy. Tại sao? Thế nên, Kuzuha để câu chú đứt gãy và để hơi thở mình cấn lên như chực khóc. Roto đúng. Và tự anh cũng biết. Tự anh cũng biết mà. Xác thịt con người của Kanae sao có thể gánh được... Trời đã bầm màu đêm khi Kanae lần nữa ngước lên nhìn anh, hơi thở thầy khò khè, và thầy run giọng nói, phí phạm quá nhỉ, chỗ máu này ấy, hay là lần sau ta lên cơn ho, ta ho thẳng vào miệng anh nhé? Có lẽ biến chuyển trong biểu cảm của Kuzuha vào khoảnh khắc ấy quá mức đường đột, nên thầy bật cười, và rồi lại tiếp tục ho. Từ buổi tối hôm ấy tới tận quá trưa ngày hôm sau, thầy không nuốt trôi được gì, kể cả sữa, kể cả súp loãng, kể cả thuốc. Đó là lần đầu tiên trong số vô số lần Kuzuha phải xuống trấn thuê một y tá lên truyền dịch cho thầy.
Khi thầy đã đủ sức để ngồi dậy, câu đầu tiên thầy nói với Kuzuha là giữa kết hôn với ta và được nhận làm con nuôi của ta, Kuzuha thích cái nào hơn?
Kuzuha siết lấy tay thầy, và đáp gọn lỏn, tôi muốn thầy sống hơn.
Căn nhà này của thầy. Toàn bộ tiền bạc của thầy. Toàn bộ những câu chuyện của thầy. Và cả thầy. Tôi muốn tất cả.
Kanae không buông tay anh ra khi thầy thều thào hỏi, sự tham lam đó có phải cách mà Kuzuha đã hết lần này đến lần khác đánh mất ‘ta’ không?
Rồi, như thể sức nặng của câu hỏi ấy đang không loang ra, rúng động đến từng tấc của cả căn phòng, thầy hỏi thêm một câu nữa.
Thế còn máu thì sao? Kuzuha không muốn máu của ta sao?
À, nhưng mà đúng là uống máu của người mắc bệnh thì cũng chẳng khác nào đang đầu độc anh…
iii.
“Đừng khóc." Đó có lẽ là lời dịu dàng nhất mà Người Lính từng nói với anh.
Kuzuha đã bất ngờ có được một cuộc hạnh ngộ với Người Lính qua một tệp bản thảo mà thầy Kanae đã bảo rằng thầy sẽ vĩnh viễn không bao giờ gửi đi, qua một câu chuyện mà thầy viết lại từ một giấc mơ của chính thầy. Hay nhỉ, ánh mắt Kuzuha nhìn trân trân vào những câu từ trên giấy, bất động, và Kanae lặp lại: Hay nhỉ. Có lẽ trên đời này thực sự có thứ gì gọi là “sự bất tử của linh hồn"... Có lẽ một phần trong ta vẫn luôn nhớ Kuzuha hơn sự hữu tử của ta có thể mường tượng. Roto “meo" lên một tiếng thật to, và ánh nhìn lẫn sự chú ý của thầy lập tức dời hướng về bên đôi mắt ươn ướt tròn xoe của nó.
Kuzuha thì vẫn đang mắc kẹt ở trang bản thảo cuối. Nơi ấy chiến tranh đã chấm dứt. Nơi ấy hòa bình đã được lập lại, trên cả đế quốc mà Người Lính đã phản bội khi y nhìn rõ bộ mặt tàn bạo của đế quốc ấy, và quan trọng nhất là trên mảnh đất bé nhỏ, mảnh đất đã oằn mình chống trả để rồi vùng thoát khỏi ách kìm kẹp của đế quốc, mảnh đất mà Người Lính đã chọn vứt bỏ tất cả để bảo vệ này. Nơi ấy Người Lính đứng trong bóng tối nhìn cờ hoa tung bay, và nói với con Quái Thú, rằng không có chỗ cho tôi ở đây, Quái Thú ạ. Khi thời bình đến rồi, anh hùng đều sẽ sớm trở thành “quái thú"; và kể cả khi Quái Thú bối rối vặn lại y, sao có thể có chuyện đó, Người Lính vẫn chỉ mỉm cười.
Y bảo y biết y đã sai.
Y đã sai quá nhiều trước khi y nhận ra rằng dòng máu đang đổ dưới tay y cũng đỏ.
Và có những lúc, điều cao thượng nhất, nhân từ nhất một con người có thể làm với chính mình – y nói bằng một tông giọng rất đỗi ôn tồn – là tự sát đấy, Quái Thú ạ.
“Đừng khóc." Đó có lẽ là lời dịu dàng nhất Người Lính từng nói với Aleksandll Lagusa.
"Đừng khóc." Đó có lẽ là lời tàn nhẫn nhất thầy Kanae từng nói với Kuzuha. Thầy viết rằng khi nhìn thấy giọt nước mắt lăn trên gò má Quái Thú, Người Lính đã do dự, đã tự cho mình cái quyền được sợ hãi, đã tự cho mình cái quyền được yếu lòng trong một khắc, hay là mình ích kỷ, hay là mình bỏ chạy, hay là mình ở lại đây thay vì về quê cha, hay là mình chọn sống tiếp, hay là mình cố gắng hạnh phúc như một quái thú bên cạnh Quái Thú, như một con người bên cạnh kẻ mỗi năm một bị nhân tính nhuộm màu này.
“Kanae."
Trên đời này, cảm giác đáng sợ nhất chính là cảm giác đánh mất hoàn toàn nỗi sợ. Khi đã bị bào mòn đến độ ấy thì không gì có thể ngăn ta lại nữa, dù mệnh lệnh là giết chết một đứa trẻ hoặc một người bạn tự thuở ấu thơ hay tự chặt đứt một ngón tay của mình, ta cũng có thể bình thản thi hành. Thế rồi Quái Thú đến như một phép màu. Bóng lưng của Quái Thú giữa biển máu ngày hôm ấy như một tấm gương tàn bạo, trả lại nỗi sợ cho Người Lính, trả lại tất cả mọi thứ cho Người Lính, trả lại những giọt nước mắt và khát khao sám hối cho Người Lính.
Aleksandll Lagusa đã từng nghe những chuyện này chưa?
Kanae đã viết như vậy, trong câu chuyện của thầy.
Nếu nghĩ như vậy, nếu ta thực sự tin vào “sự bất tử của linh hồn"... thì căn bệnh này của ta có lẽ là báo ứng chăng.
Anh có nghĩ vậy không, Kuzuha?
"Đừng đi.”
Rằng đây là báo ứng mà ta phải gánh chịu thay Người Lính đó. Người Lính đã dành những năm đầu đời bị cuốn theo những lời nói dối của những kẻ cầm quyền, và trở nên đui mù, giẫm đạp để bảo vệ. Giẫm đạp để bảo vệ…
“Đừng đi…”
Kuzuha thấy nghĩ như thế là tàn nhẫn hơn, hay là vị tha hơn?
Rằng hết thảy đều là báo ứng. Rằng không có bi kịch, không có gì là bất công; rằng những gì ta có đều chỉ là những gì ta đáng phải nhận cả thôi...
Ngực thầy áp sát vào ngực anh, và anh có thể nghe thật rõ, thật sõi tiếng tim thầy.
Lần này thì không được. Lần này thì không được. Anh sẽ không nói rằng mình sợ “Kanae", sẽ không trốn sau sự tự bảo vệ bản thân vụng về ấy để đẩy "Kanae” ra xa nữa, sẽ không nhìn lướt hay bỏ qua những gì con người nhất, mong manh nhất, yếu ớt nhất mà con người tưởng chừng như có thể làm được mọi thứ này đôi lúc sẽ để lộ ra cho anh nữa.
"Kanae, xin thầy… đừng đi.”
Thầy vùi mặt vào hõm vai anh. Thầy đáp lại cái ôm của anh như thể muốn nói rằng thầy cũng rất sợ. Đừng đi, Sasha. Linh Mục đã nói như vậy. Đừng đi, Lagusa. Người Lính đã nói như vậy. Đừng đi, Kuzuha. Thầy Kanae của anh đã nói như vậy.
“Đừng chết." Đừng đi.
Anh thấy phản chiếu trong những giọt nước mắt của anh là niềm hạnh phúc của thầy với tư cách một người viết, và niềm đau xót của thầy với tư cách là "Kanae”.
Thầy bảo, trước khi gặp anh, ta cứ ngỡ mình không còn gì để kể.
Rằng không còn câu chuyện nào chờ để được kể thông qua ta nữa. Rằng không có câu chuyện nào "nhất thiết phải là ta”. Trong sự trì trệ ấy, thật ra, có một niềm nhẹ nhõm nhất định…
Đừng giấu, đừng không cho tôi được đọc, Kuzuha lặp lại, đừng đi.
Kuzuha à, thầy nói, ta xin lỗi, ta đã luôn mong anh có thể gánh vác lấy một nửa sự cô đơn của ta.
iv.
Thầy tâm sự với anh rằng, bản thảo cuối cùng mà thầy gửi về tòa soạn trước khi thầy lánh mặt khỏi văn đàn ấy, phải sau khi bưu kiện đi tận ba ngày, thầy mới vỡ lẽ rằng câu chuyện thầy thực sự muốn kể là gì. Phải sau khi gửi nó đi, thầy mới tìm thấy được hình hài thực thụ cho câu chuyện. Lúc ấy thầy có tiếc không, anh hỏi, và thầy đáp rằng có gì để mà tiếc. Thầy vẫn có thể viết tiếp, vẫn có thể gửi bản chỉnh sửa đến cho biên tập viên, sẽ có hai phiên bản của câu chuyện ấy tồn tại trên cõi đời này như viền lại một chặng hành trình lặng lẽ của chính thầy. Mà kể có không gửi đi nữa, cũng có làm sao; khi ấy thầy vươn tay tới, ngỏ ý muốn nắm tay Kuzuha, đỡ anh xuống từ những bậc thang đá đầy rêu, nhưng Kuzuha tự nhảy xuống trước. Đôi dép cỏ dập bẹp lên thềm đá bên dưới.
Thầy Kanae không nói gì, lẳng lặng ngoảnh đi; lúc ấy đã là bao nhiêu năm kể từ khi họ bắt đầu sống cùng nhau, Kuzuha không biết thầy có để bụng hay không, nhưng anh biết khi anh nắm lấy tay thầy, nguyên cớ không phải chỉ vì anh sợ thầy để bụng. Tay thầy đầy những vệt chai của một cuộc đời đã rẽ qua bao ngả bôn ba, không bôn ba thì làm sao có gì để kể, có gì để viết, thầy vẫn luôn nói như thế, những khi thầy vừa tất bật đóng đồ vừa rủ anh lên núi, những khi thầy bắt chuyện với một nàng phục vụ ở một quán cà phê ven đường, để hỏi nàng thêm về cách pha cà phê; những khi tay thầy lấm bùn và chân lấm đất, nhưng ngoài đó ra thì trống trơn, những khi thầy bình thản ngước lên nhìn anh từ dưới ruộng, và giữa tiếng ễnh ương và côn trùng ro ro, bảo anh rằng đã quá muộn, thầy đã nhìn thấy thứ thầy không nên nhìn thấy mất rồi; thôi, không làm sao được nữa rồi, Kuzuha, anh tự đi về đi, ta giao phó Roto lại cho anh nhé, nếu có con ếch nào nhảy vào trong nhà xin ăn thì nhớ bảo với Roto rằng đó là ta đấy... Kuzuha chỉ biết lắc đầu cười. Rồi thầy thở dài than rằng tiếng kêu của chúng nó xô ta bẩn hết cả người rồi, mau mau về nhà thôi. Kuzuha chống cằm hỏi lại thầy, thầy bảo thầy sắp biến thành ếch rồi kia mà, thế thì nhà thầy phải ở phía bên kia chứ. Thôi đưa chìa khóa cho tôi rồi mau dọn vào nhà mới đi kẻo muộn. Chưa bao giờ Kuzuha được thấy cuộc sống trôi qua chậm rãi đến thế. Chưa bao giờ, trước đây, Kuzuha có cơ hội được hiểu cái gọi là vẻ đẹp của sự thân thuộc, vẻ đẹp sinh ra từ sự thân quen.
Những thửa ruộng bất tận này. Vách núi và cánh rừng cứ thảng hoặc lại nghe tiếng loạt xoạt trong đêm, mà thầy Kanae nói rằng có khi là sứ giả của thần linh đi tuần này. Những món ăn lạ miệng, niềm cố chấp với việc thử nghiệm đủ loại công thức với cả ngô ngọt lẫn ngô-không-ngọt của thầy. Bùn đất dính từ tay thầy sang lòng tay anh, bùn đất dính cả vào vạt áo của anh, khi thầy hụt chân suýt ngã và vội níu lấy anh để lấy lại thăng bằng. Những nhánh cây khẳng khiu nơi vách núi như đóng khung thung lũng vắng vợi phía xa; đến mùa xuân, người ta sẽ lại ra ấy họp chợ thôi, thầy bảo; khung cảnh trong quả cầu tuyết trên tay Kuzuha đã chẳng còn khác chi khung cảnh bên ngoài, anh hỏi thầy, con người có cần mùa đông không. Đất trời có cần mùa đông không. Thầy im lặng một chốc, rồi ngồi xuống bên cạnh anh, và đáp rằng chẳng lẽ phải được cần tới mới có thể tồn tại ư.
Nhưng, thầy nói, ta cũng chỉ là con người thôi, ta còn là người viết, nên ta càng hay biện giải; nên ta sẽ nói rằng ta nghĩ là cần, Kuzuha ạ. Con người, đất trời, vạn vật đều cần mùa đông. Một bông tuyết bị gió cuốn, bay lạc, đáp lên mu bàn tay Kuzuha. Chậm rãi tan ra. Tại sao? Kuzuha tiếp tục hỏi, tại sao lại cần mùa đông?
Thầy lại im lặng mất một thôi. Rồi thầy đáp, có lẽ là vì nhân quả.
Khi anh hiểu được câu trả lời của thầy, Kuzuha cũng hiểu rằng nghiệp quả của chính anh đã nhập nhằng đan cài quá sâu với nghiệp quả của mảnh đất này.
Viên đạn bắn ra từ nòng súng của Linh Mục. Những bức điện tín chứa tình báo mật của Người Lính. Hết thảy đều phải nhanh, phải thức thời, phải “kịp", không thể chờ, không thể rút lại, không được quyền sai, không thể vãn hồi. Nhưng thầy Kanae thì bảo, có phải đến một ngày sau khi gửi bản thảo về tòa soạn mới ngộ ra mình thực sự muốn viết gì, cũng chẳng sao. Ngòi bút thầy chầm chậm đưa từng nét trên giấy. Roto ngoạc miệng ngáp một cái thật dài, rồi rời khỏi chỗ nằm cạnh thầy, chỉ nhích sang bên có một, hai bước thôi, vì mặt trời đổi hướng rồi và ở kia không còn nắng nữa. Nó nằm xuống, ngửa bụng ra, và ti hí mắt nhìn Kuzuha, như thể muốn nói, trẫm hạ cố cho ngươi rờ trẫm đúng một lần này.
Kuzuha phủ tay lên lớp lông trắng rất mềm ở bụng nó.
Khi anh ngẩng lên, anh bắt gặp ánh mắt thầy Kanae đang nhìn họ; đôi mắt xám xanh rõ mồn một ý cười.
Nối vào sau một nụ cười cũng chậm rãi như thế, có một hôm thầy đột nhiên bảo, ta đi du hí đi, Kuzuha. Khi ấy sức khỏe của thầy đã dần chuyển biến xấu, nhưng càng thế thì Kuzuha càng dễ mềm lòng, có lẽ nếu họ cùng nhau đi đến một mảnh đất không vùi chôn những vòng lặp và báo ứng, có lẽ nếu họ đi đến một mảnh đất chưa từng lưu giữ bước chân một Linh Mục hay Người Lính hay Nhà Văn nào. Có lẽ, chỉ cần như thế, sắc đen này sẽ buông tha cho thầy. Anh đang suy nghĩ như thể anh là một nhân vật viễn tưởng, nhưng viễn tưởng sinh ra không phải để dạy con người ta làm thế nào để tự kiến tạo cách sống sao. Buồng tàu có bốn giường, nhưng thầy Kanae bao trọn, nên chỉ có anh và thầy Kanae nằm đối diện nhau; toa tàu lắc lư, cọt kẹt suốt đêm dài; thầy sực tỉnh vì cơn ho lúc hai rưỡi sáng, rồi vừa nhấp môi cốc nước ấm mà Kuzuha đưa tới bên giường thầy, vừa cười hỏi anh, đây là lần đầu tiên Kuzuha đi tàu à. Thầy bảo hay là để ta thức cùng anh, nhưng chẳng quá bao lâu, tay anh lại đang vén những lọn tóc vướng lên khuôn mặt say ngủ của thầy.
Sập tối ngày thứ hai họ ăn ngủ trên tàu, bằng một biểu cảm đầy nghiêm trọng, thầy đột nhiên bảo, Kuzuha à, ta đánh rơi vé mất rồi. Đây là chuyện lớn, thật đấy... Nếu bị cái anh soát vé phát hiện ra thì khó xử lắm. Kuzuha chưa đi tàu nên không biết thôi, nếu làm mất vé thì không chỉ dừng lại ở bị đá xuống tàu thôi đâu… Phải đến lúc Kuzuha chậm rãi hạ cánh xuống bãi biển gần đó, rất xa từ cánh cửa sổ khoang mở toang nơi họ đã đào tẩu từ, dưới tiếng thở dốc của bầu trời đêm, thầy mới điềm nhiên bảo, ta nói dối đấy. Kuzuha im lặng một lúc rồi mới thở dài hỏi lại, từ đâu; thầy bật cười và đáp, từ đầu.
Anh cứ tin ta như một phản xạ ấy nhỉ, mặc kệ hành lý, thầy ngồi thụp xuống thềm đường để thả mình xuống bãi đá bên dưới, Kuzuha lập tức nhảy xuống trước. Nhưng may là thầy cũng chẳng cần anh đỡ.
Dưới nhịp thở đều đều của bầu trời đêm, thầy thủ thỉ. Nhưng mà có hai điều không phải là nói dối.
Một là gì?
Là ta thực sự vẫn luôn muốn dẫn Kuzuha tới bãi biển này.
Thế còn hai?
Thầy tủm tỉm, ta không nói đâu.
Nhưng không phải không nên xuống biển vào dịp này sao, thầy bảo, giọng là là như áp nhịp lên dịp sóng, Kuzuha chưa nghe à, người ta hay bảo rằng vào mùa lễ này sẽ có biết bao nhiêu linh hồn dạt trôi trong lòng biển. Xuống biển vào ban đêm là dễ bị kéo chân lắm đấy...
Thì tôi sẽ kéo thầy về, Kuzuha đáp bình thản, xa xa bỗng có tiếng còi tàu vang lên; không phải tàu biển, mà là tàu hoả, xình xịch, xình xịch, có phải đúng cái đoàn tàu mà họ đã bỏ lại, có phải giằng co đứt biển tôi cũng sẽ kéo thầy về, anh nói nhẹ tênh. Đáng sợ thế, thầy Kanae bật cười, và bấu lấy tay anh khi bước từ lưng đá lên mặt cát, thế thì ta chắc chắn sẽ không xuống đâu. Trước khi đứt biển thì không phải ta sẽ gãy đôi trước à?
Thầy bước me mé bên bờ sóng, để nước biển đánh phủ lấy chân mình. Rồi khi tiếng đoàn tàu đã dứt, thầy ngoảnh nhìn ra ngoài khơi, không nhìn anh và cũng không nhìn chân mình nữa. Thầy hỏi trổng, vu vơ, không phải ta đã lạc mất đường về nhà rồi sao.
Câu hỏi ấy vít nhịp với tiếng sóng, đánh tâm trí của Kuzuha trở về với một ký ức xa xăm. Có một lần, cũng ở một bãi biển đêm giữa hè thoảng lạnh như thế này, Người Lính đã cởi bỏ mũ, cởi bỏ áo chùng, cởi bỏ bộ quân phục, chẳng để lại gì trên mình, tiến về phía biển. Khi ấy Kuzuha đã hoảng loạn tới mức bung cánh lao ra để ghìm y lại. Người Lính ngoảnh sang nhìn Kuzuha và cười bằng tông giọng hệt như Nhà Văn, hệt như thầy Kanae; Người Lính ngoảnh sang nhìn anh với đôi mắt xanh hơn đôi mắt thầy một chút, nhưng nốt ruồi dưới khóe mắt thì giống hệt, không khác một ly. Lagusa, Người Lính gọi anh là Lagusa. Linh Mục, Người Lính, Nhà Văn, khác biệt giữa họ không được đánh dấu bằng cách anh gọi tên họ, mà bằng cách họ gọi tên anh. Lagusa, Người Lính gọi anh, và lại nói những lời mà anh không hiểu, những lời mà anh biết chính Người Lính cũng chẳng tin vào. Lagusa. Anh nghĩ tôi cao thượng với bản thân đến mức sẽ cho phép mình chết vào lúc này ư? Anh nghĩ tôi can đảm đến mức...
Cho nên, Kuzuha một lần nữa nắm lấy tay thầy.
v.
Ta muốn đến ngôi làng mà vị du y đó đã nói tới… Cái nơi được dựng lên dưới một hố bom.
Khi mùa đông cuối cùng cũng đã gần qua đi, thầy Kanae đã vừa hà hơi vào lòng tay vừa nói như vậy. Tấm áo khoác lông cừu dày cộm xém nữa đã tuột khỏi vai thầy khi thầy đặt một, rồi hai múi quýt đã bóc cả sơ vào bàn tay đang lơ đãng ngửa lòng của Kuzuha.
Khi nào tuyết tan, Kuzuha đưa ta đến đó nhé? Bằng đường bay ấy.
Mùa đông năm ấy Roto cứ đi biền biệt, đi mãi, đi mãi không về. Cứ cách ngày Kuzuha lại thấy thầy vọng ra ngoài hiên mà ngóng. Kuzuha có nghĩ là Roto chết rồi không? Có một lần, khi đang vừa nằm sấp trên sàn, vừa vùi mình dưới chăn mà viết, thầy đột nhiên dừng bút, và hỏi anh một câu như thế. Khay trà trên tay Kuzuha êm ái hạ xuống thềm chiếu, chẳng biết tự khi nào anh đã không còn chững lại mỗi khi nghe miệng thầy nhắc về cái chết. Nhưng chưa đợi anh đáp, Kanae đã tự tiếp lời; thầy bảo, nhưng nếu Roto chết thật, thì Roto sẽ không để ta tìm thấy nó đâu. Và chỉ cần không tìm thấy nó thì ta sẽ có thể tin là Roto vẫn còn sống. Sẽ luôn có ít nhất một phần trăm khả năng, một hy vọng mong manh, rằng Roto vẫn còn sống.
Có lẽ Roto muốn ta tin như thế. Nên ta sẽ tin như thế. Ừ.
Trong đầu Kuzuha nghĩ, thầy đừng có mà học theo, nhưng nói vậy cũng chỉ bằng thừa, nên anh bảo đơn giản rằng chắc chắn Roto vẫn còn sống. Có lẽ nó chỉ di cư đến nơi nào ấm hơn, đợi mùa xuân, Roto chắc chắn sẽ trở về. Kanae khịt cười, ngước lên nhìn anh và hỏi trêu, không chỉ thỏ mà cả mèo cũng được coi là một loài chim luôn à? Kuzuha phì cười theo, anh bảo thầy không biết à, có những đất nước mà ở đó năm con thỏ là năm con mèo đấy…
Hay là năm sau ta cùng đi đến đó nhé, Kuzuha nói, nhẹ như không, thoảng sợ sệt, đầy vị kỷ. Dưới ánh đèn bão ấm áp, Kanae tì má lên bắp tay, môi vẫn nửa như đang cười nửa như không, thầy ngước lên nhìn anh, không (dám) nói gì. Và Kuzuha những muốn trách thầy sao mà bất công thế. Chỉ có anh lúc nào cũng vô thức tin vào những lời nói dối của thầy. Chỉ có anh, dù có nhận ra, cũng vẫn sẽ chọn tin vào những lời nói dối của thầy.
Thế mà sao thầy không cho anh tự dối gạt bản thân, không giúp anh tự dối gạt bản thân, dù chỉ một lần này. Nhưng đúng như những gì Kanae nói, càng về sau, càng đọc, anh sẽ càng thấy được những gì yếu ớt nhất của thầy. Kanae luôn khiến anh tin rằng anh đang không dối gạt chính mình. Một phần trăm khả năng, một tia hy vọng khả dĩ, đó là bản chất của những câu chuyện mà Kanae viết. Là bản chất đằng sau những lời nói dối tựa như cầu nguyện của thầy.
Máu rỏ tỏng, đè lên giọt chữ chưa khô trên tờ giấy bản thảo kẻ ô. Kanae, vẫn như mọi lần, bình thản đưa khăn tay lên bịt mũi, rồi vô thưởng vô phạt than một câu, trời dạo này sao hanh quá chừng…
vi.
Cánh Kuzuha té ra xấu hoắc, thầy đã nói như thế khi vươn tay chạm vào mấu xương nhô lên trên sống cánh của anh.
À thế à. Rồi, thế thì phí bay của thầy hết chừng đây, Kuzuha nói bừa một con số vượt tầm chi tiêu của mọi con người mà y biết; thầy Kanae bật cười rồi vươn tay thắt tấm khăn choàng trên cổ anh chặt hơn một chút. Vậy cho ta trả góp nhé, kiếp này của ta trả không hết thì Kuzuha đến tìm ta của kiếp sau đi.
Chuyến thăm ngôi làng nơi hố bom trôi qua trong bình dị, trong những tiếng ho thảng hoặc và những khoảng lặng không len lỏi chút ký ức nào. Nơi này yên bình nhỉ, thầy bảo, vô thưởng vô phạt, sau một vòng dạo quanh. Kuzuha đồng tình. Nhưng nếu thầy đòi đến sống ở đây thì tôi xin kiếu nhé.
Trong làng không có quán trọ nào cả, chỉ có duy nhất một tiệm sách báo. Chủ tiệm nhận ra thầy Kanae, trước sự ngạc nhiên của chính thầy, và chính vị chủ tiệm ấy đã rất mừng rỡ tỏ ý muốn cho thầy trú nhờ; nhưng tất nhiên, thầy Kanae từ chối, thầy bảo không muốn ở nơi có người khác, vì sợ sẽ lây cho họ căn bệnh mà tới giờ thầy vẫn chưa biết tên này.
Họ trú lại trong một ngôi đền đã không còn được sử dụng nữa, bị dỡ mất một nửa so với ban đầu – số gỗ ấy được đem đi cất nhà, cất xe, cất kế sinh nhai cho những người vẫn đang cùng nhau bám trụ trên mảnh đất không ưa gieo trồng này, người chủ tiệm sách kể là vậy, đó là di nguyện của chính người trông coi quá cố của ngôi đền – nửa còn lại được trưng dụng như một cái kho để đồ. Ngay khi giật khóa xuống và đẩy cửa nhòm vào trong, Kuzuha đã nói ngay, quả nhiên là không được đâu thầy ạ, bụi quá. Nhưng Kanae cứng đầu đáp, thế thì hay là chúng ta ngủ ngoài hiên. Xuân cũng về rồi, trời đâu lạnh tới thế, và giả có lạnh quá thì Kuzuha dang cánh ra che chắn cho ta, nếu bị nhìn thấy thì tẩu đi luôn cũng tiện…
Kuzuha phản đối ngay, tiền bay sáng nay thầy còn chưa trả tôi lấy một đồng.
Cuối cùng thầy Kanae cũng tự cầm chổi, và bắt anh cầm khăn lau. Cuối cùng Kuzuha vẫn phải nhượng bộ, và chỉ sau một cái búng tay và dăm lọn tóc trắng rụng tứ tán như tuyết sắp tan, căn phòng sạch bong. Kanae cầm cây chổi, nhìn anh, và nhẹ giọng nói, hay là ta đi xin máu cho anh nhé. Nếu bây giờ lại rộ lên tin đồn là ta là ma cà rồng, kể cũng lại hay.
Kuzuha hỏi vậy thầy có muốn trở thành ma cà rồng thật không.
Kanae chớp mắt. Rồi thầy mỉm cười bảo, Kuzuha nói phét vẫn vụng lắm.
Ý thầy chỉ là, nếu thực sự có cách để kéo dài sự sống cho thầy, thì chẳng phải Kuzuha sẽ làm từ lâu rồi ư. Cho dù cái giá phải trả có là gì.
Cho dù cái giá phải trả có là gì...
... Không. Kuzuha đâu có ngây thơ đến mức sẽ phạm cùng một sai lầm ấy...
Trong số tạp nham những món đồ được chất ở cái kho tập thể này, có một giá sách. Kanae cầm đèn bão, soi sáng từng dòng tựa, sau một hồi chọn lựa mới rút từ ấy ra một cuốn sách đã hơi bong gáy, và tiếp tục bốc phét một cách tài tình: Kuzuha quen ta muộn quá nên chẳng biết đó thôi, hồi ta còn sung sức, phí một buổi đọc chuyện của ta là từng đây, từng đây một giờ kia. Bây giờ ta đọc cho Kuzuha nghe, rồi lấy tiền từ ấy để bù vào nhé? Tất nhiên là chẳng đợi Kuzuha ừ hử gì, thầy đã đang lật trang loạt xoạt: Bắt đầu trừ nợ từ sau một, hai, ba…
Rồi thầy lên cơn ho. Mùi máu tanh nồng xộc lên tới tận óc.
Tiếng ho đánh cho ánh đèn lay động, run rẩy như ánh nến.
Rồi thầy kéo Kuzuha ngồi xuống. Rồi thầy gối đầu lên đùi anh, hơi thở thầy cấn cục, khó nhọc, tay thầy siết lấy vạt vải trên đầu gối anh. Kuzuha, giọng thầy thô và rát, Kuzuha… hay là anh đọc cho ta nghe đi? Chỉ câu chuyện đầu tiên thôi, chỉ cần đọc “Đêm thứ nhất" thôi…
Kuzuha xoa lưng cho thầy, bóng anh in lên vách tường phía sau. Ít ra ma thuật đã trám đủ cho căn phòng này không lọt gió. Kuzuha nhẹ nhàng xoa lưng cho thầy.
Câu chuyện mang tên “Đêm thứ nhất" ấy mở đầu bằng câu thoại của một người con gái: Em sắp chết rồi.
Kuzuha ngừng lại một chút, tay vẫn xoa từng vòng tròn lẳn trên lưng thầy; anh ngừng lại ngay sau câu đầu tiên, rồi mới đọc tiếp. Đó là một câu chuyện ngắn, ngắn như vòng đời của một bông hoa. Nhân vật chính trong câu chuyện đó nằm mộng thấy mình đang ngồi bên giường một người con gái, và nàng liên tục khẳng định rằng nàng sắp chết, nàng sắp chết ngay đây. Nhân vật "tôi" ban đầu không tin lời nàng, rồi càng về sau y càng bàng hoàng, nhưng đến cùng vẫn cứ bán tín bán nghi, thầy Kanae nói là vậy; nhưng giọng đọc của Kuzuha lại họa nên một câu chuyện hoàn toàn khác. Giọng đọc của Kuzuha chỉ có sự cay đắng, chỉ có sự không dám tin, không nỡ tin, không muốn tin. Thế này mà chết thật sao. Người con gái níu lấy nhân vật chính như cách mà thầy Kanae vẫn hay níu lấy vạt áo anh, và nàng bảo nhân vật chính rằng khi nàng chết, khi nàng đã chết, hãy lấy vỏ sò đào huyệt chôn nàng, hãy lượm một mảnh sao từ trên trời rơi xuống làm bia mộ cho nàng, sau đó hãy ngồi chờ bên mộ nàng một trăm năm.
Một trăm năm. Một trăm năm. Thế nào em cũng sẽ trở lại gặp chàng.
Ánh đèn trìu mến vòm lấy bóng Kuzuha trên tường, và dịu dàng loang sắc trên khuôn mặt nom như thiu thiu, sắp ngủ của Kanae.
Thế là, nhân vật chính làm theo đúng những gì nàng bảo. Lấy vỏ sò đào huyệt chôn nàng. Lượm một mảnh sao băng, mảnh sao đã bị chuyến rơi từ thượng tầng không gian xuống bào cho mòn hết mọi góc cạnh, trở nên tròn trịa và thật dễ để ôm vào lòng. Như một thứ tình cảm đã được mài nhẵn qua hơn bảy mươi năm ròng rã, một thứ tình cảm đã chờ rất lâu, cho đến khi không còn những góc cạnh sẽ làm đau người tiếp nhận nữa, một thứ tình cảm mà “tôi" có thể cứ vậy thả vào lòng "người”.
Rồi nhân vật chính ngồi xuống, tựa vào bên mộ nàng. Và bắt đầu chờ. Đến lúc ấy, thầy Kanae bỗng bảo anh, đừng như nhân vật chính, đừng chỉ đếm một, rồi hai. Anh hãy đếm đủ một trăm đi, Kuzuha. Hãy đếm như là đang chờ cho đủ một trăm năm. Giọng thầy nghe như vừa bị báo ứng đen đúa cấu cào, nghe như một tệp bản thảo đẫm dịch quả cầu tuyết và xước xát đầy những mảnh thủy tinh. Kuzuha không muốn thầy phải nói lại đến lần thứ hai. Thế là, có chút vội vàng, Kuzuha đếm, một, Kuzuha đếm hai, Kuzuha đếm, ba, và rồi Kanae bắt đầu đếm cùng anh, bốn. Thầy đếm cùng anh đến bảy, rồi thầy không đếm nữa. Rồi thầy nhảy vào đếm tiếp cùng anh từ năm thứ mười lăm, đếm thẳng tới hai mươi bảy, rồi lại ngưng. Rồi thầy lại vào đếm cùng anh năm thứ ba mươi chín. Đếm tới bốn mươi sáu. Mặt trời mọc rồi lặn, mặt trời mọc rồi lại lặn, trăng khuyết rồi lại bán nguyệt, bán nguyệt rồi lại tròn, tròn rồi lại khuyết, bốn mùa từ nối tiếp đã thành lẫn lộn vào nhau, thầy ngừng đếm ở sáu mươi tư và đếm tiếp cùng anh từ bảy mươi sáu, Linh Mục đã dạy cho “Sasha" cách để yêu thương loài người, Người Lính đã dạy cho “Lagusa" cách để căm ghét loài người, nhưng hơn thế nữa, hơn thế nữa…
Thầy đếm cùng anh đến tám mươi. Rồi dừng lại. Kuzuha đếm đến một trăm một mình. Đến lúc này đây giọng anh nghe chừng như nấc nghẹn. Bàn tay anh đang đặt trên bắp tay thầy run lên. Kanae phủ tay lên những run rẩy ấy, và nhẹ nhàng bảo anh, hãy đọc tiếp. Hãy đọc tiếp, Kuzuha.
Đến lúc ấy, nhân vật “tôi" nhìn tấm bia mộ bám đầy rêu xanh, và nghĩ, có lẽ “tôi" đã bị người con gái lừa.
Thế rồi từ bên dưới bia mộ, một chồi non cựa mình phá đất, nhú lên. Và nhân vật "tôi” cứ thế nhìn chằm chằm vào chồi non ấy, mà quên không còn đếm nữa. Nhịp tim của chính Kuzuha như run rẩy khi anh đọc thấy một giọt sương rơi xuống, và những cánh hoa huệ trắng mong manh trễ xuống dưới sức nặng của chỉ một giọt đất trời, nhân vật chính, “tôi" cúi hôn cánh hoa ấy. Bất giác ngước nhìn trời cao để mắt đối mắt với không phải mặt trời, không phải mặt trăng, mà chỉ một vì sao duy nhất.
Một trăm năm đã thôi qua rồi đấy, Kuzuha ạ, thầy thủ thỉ.
Đó là khoảnh khắc tôi nhận ra, đã một trăm năm rồi.
Giọng Kuzuha chua chát và tắc nặng, anh hỏi, vậy thầy muốn tôi chờ bên mộ thầy một trăm năm sao? Một trăm năm, thầy hứa sẽ trở lại gặp tôi sao? Kanae lật người sang nhìn anh, đôi mắt xám ánh xanh dịu dàng khôn xiết; góc độ này, khung cảnh này mới thật quen thuộc làm sao. Và thầy bảo, nếu Linh Mục đã dạy cho Kuzuha cách để yêu thương loài người, và Người Lính đã dạy cho Kuzuha cách để căm ghét, cách để giận dữ với loài người…
… thì ta muốn Kuzuha đừng bao giờ quên những điều ấy, và ta muốn dạy cho Kuzuha cách để tha thứ cho loài người.
Cho tới tận khắc cuối cùng.
Có được không?
Kanae vươn tay tới, và lần này Kuzuha bắt lấy tay thầy, lần này Kuzuha kéo tay thầy, tới, áp lên má anh. Tay thầy vẫn còn nóng hôi hổi, như vì sao đã rơi xuống từ trên trời cao, bị bào mòn mọi góc cạnh trong câu chuyện ấy. Vì sao rơi xuống có lẽ để làm gì khác, nhưng vì gặp “tôi" mà bỗng dưng nó kẹt thành một mộ bia, ròng rã những một trăm năm trời. Linh hồn tiếp nối, bất tử, vĩnh cửu, thoảng mùi hương của một “thiên thần" này, có lẽ đến cõi đời để làm gì khác. Nhưng vì gặp anh…
Nỗi đau này là báo ứng của ai?
Đừng chờ bên mộ ta một trăm năm, Kuzuha.
Cứ đi đi, nhé, rồi ta sẽ đi tìm anh.
Đi thật là nhiều. Yêu thương thật nhiều, căm ghét thật nhiều, tha thứ thật nhiều.
Hãy cứ, thật là chậm rãi.
Rồi ta sẽ đi tìm Kuzuha. Cho dù không phải là dưới hình hài một con người đi nữa. Rồi trước khi Kuzuha nhận ra, ta đã tìm thấy Kuzuha rồi. Dù là dưới hình hài một quả cầu tuyết, một ngọn đèn, một cơn gió, một tiếng chim, hay một lời chào.
Cho nên Kuzuha hãy cứ, thật là chậm rãi, tha thứ cho tất cả. Chậm rãi tha thứ cho sự vô minh, tha thứ cho sự không thấu sõi, tha thứ cho sự rộng lớn luôn nhấn chìm và sự hạn hẹp chẳng đủ để thứ tha của thế gian này. Chậm rãi tha thứ cho sự đổi thay vần xoay không ngừng của thế gian này.
Vì như thế cũng là tha thứ cho ta đấy.
Kanae đã mỉm cười, để lại những lời như thế.
Tàn nhẫn gấp vạn lần người con gái trong câu chuyện kia.
